NGOẠI TÌNH CÓ THỂ BỊ ĐI TÙ KHÔNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ PHẠT NHƯ THẾ NÀO

NGOẠI TÌNH CÓ THỂ BỊ ĐI TÙ KHÔNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ PHẠT NHƯ THẾ NÀO

Ngoại tình. Đây là câu chuyện nhức nhối diễn ra hằng ngày trong xã hội, nó ảnh hưởng nghiêm trọng đến hạnh phúc gia đình, vi phạm nguyên tắc của Luật Hôn nhân gia đình và là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm đổ vỡ biết bao mái ấm, gián tiếp gây ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý trẻ em. Dẫu biết rằng nhu cầu tình cảm là một nhu cầu tự nhiên của con người, nhưng sống trong môi trường xã hội lành mạnh và có sự quản lý của luật pháp thì việc ngoại tình phải là một trong những hành vi vi phạm pháp luật không và chế tài tương ứng là gì. Mời mọi người cùng Như Ý tìm hiểu thông qua nội dung sau.

 

Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác và người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ. Đây được xem là hai hành vi vi phạm "tội ngoại tình".

 

Đầu tiên, chúng ta tìm hiểu thế nào là “chung sống như vợ chồng”, theo đó tại Mục 3.1 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/09/2001, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn như sau:

     "Trong Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng thì “chung sống như vợ chồng” là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó...”

 

       Biện pháp xử lý vi phạm hành chính:

Khi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng sẽ bị xử lý vi phạm hành chính theo Nghị định 82/2020/NĐ-CP ngày 15/07/2020 tại Điều 59 quy định về Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng với các mức phạt như sau:

     “1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

       a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

       b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

       c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

       d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

       đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.

 

     2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

       a) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

       b) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;

       c) Cưỡng ép kết hôn hoặc lừa dối kết hôn; cưỡng ép ly hôn hoặc lừa dối ly hôn;

       d) Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình;

       đ) Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân.

 

     3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

       Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các điểm d và đ khoản 2 Điều này.”

 

     Ở góc độ xử lý hình sự:

Điều 182 Bộ Luật hình sự 2015 quy định chế tài đối với Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng áp dụng khung hình phạt như sau:

     “1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

       a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

       b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

     2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

       a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

       b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.”

Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này khi thuộc một trong các trường hợp hoặc gây ra hậu quả nghiêm trọng như quy định tại Điều 59 Bộ luật hình sự 2015 trên đây.

 

Trong đó, "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" được giải thích theo Mục 1 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/09/2001 như sau:

     "Bị coi là "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" nếu trước đó người nào đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được liệt kê trong một điều luật nói trên, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà lại:

     a) Thực hiện chính hành vi đó;

     b) Thực hiện một trong những hành vi được liệt kê trong điều luật tương ứng đó."

 

Hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính” là hết thời hạn do pháp luật xử phạt vi phạm hành chính quy định. Theo đó, quy định tại Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì “thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính” được nêu cụ thể:

     - Trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày cá nhân chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo mà không tái phạm hoặc;

     - 01 năm, kể từ ngày cá nhân chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm.

Như vậy, có thể thấy hành vi ngoại tình tùy vào tính chất, mức độ, hậu quả gây ra và cấu thành tội phạm mà có thể bị xử lý theo biện pháp xử lý hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự, thậm chí với hình thức nặng nhất là phạt tù.

Xin chân thành cám ơn quý bạn đọc đã theo dõi bài viết của Như Ý. Trên đây là những tư vấn của Tư vấn Như Ý về vấn đề này, rất mong bài viết sẽ hữu ích cho bạn. 

Nếu có bất kỳ thắc mắc hay cần tư vấn về thủ tục liên quan đến doanh nghiệp, đầu tư, thuế - kế toán và giấy phép hoạt động, bạn có thể liên hệ với chúng tôi thông qua:

     - Facebook: www.facebook.com/nhuylawfirm

     - Hotline: (028) 2202.89.89 hoặc 0914.39.47.96

     - Email: nhuylawfirm@gmail.com

     - Tác giả bài viết: Thảo Vy -